Thứ Năm, 10 tháng 5, 2012

Thay đổi sự nghiệp giữa đường đời

Bạn có biết Eric Cantona? Huyền thoại bóng đá người Pháp này đã từ giã môn thể thao vua khi mới 30 tuổi, đang ở đỉnh cao phong độ, với lý do “đã mất niềm đam mê thi đấu”, dù bóng đá đã đem lại cho anh vinh quang và tiền bạc. Rời bỏ thể thao, anh theo đuổi niềm đam mê mới - nghệ thuật thứ 7 - với vai trò là diễn viên, đạo diễn, nhà sản xuất phim và đã đạt được thành công nhất định: bộ phim “Looking for Eric” do anh sản xuất và đóng vai chính được lọt vào vòng đề cử phim hay nhất giải Cành cọ vàng Liên hoan phim Cannes 2009.
Có thể bạn sẽ cho rằng vì Eric đã quá giàu rồi nên anh mới bỏ nghề dễ dàng như thế. Vậy tôi lại đưa ra một trường hợp khác: nữ văn sỹ J.K. Rowling của siêu phẩm Harry Potter. Bà đam mê viết sách và luôn ấp ủ ước mơ tạo nên một tuyệt tác, nhưng phải đến gần 10 năm sau, vào năm 1997, ở lứa tuổi trung niên, sau khi chấp nhận vô số công việc tạm bợ, bà mới hoàn thành tập đầu của bộ tiểu thuyết lừng danh. Bây giờ bà được tôn vinh là “nhà văn Anh còn sống vĩ đại nhất” và cũng là người phụ nữ giàu nhất nước Anh.
Trải qua nhiều tháng ngày bình lặng với công việc và thu nhập ổn định, nay muốn thay đổi nghề nghiệp theo đam mê hay vì bất cứ lý do nào khác, chúng ta thường e ngại không biết con đường phía trước sẽ ra sao. Eric hay Rowling chính là nguồn động viên lớn lao đối với những ai đang muốn thay đổi sự nghiệp ở giữa đường đời. Hãy tự hỏi bạn có chấp nhận làm kẻ làng nhàng hay khát khao trở thành người đạt tới đỉnh cao trong nghề nghiệp? Một khi muốn làm lại thì dù muộn vẫn còn hơn không. Sau đây là những bước bạn nên làm nếu quyết định thay đổi:
1. Xác định nguyên nhân muốn thay đổi nghề nghiệp
Tại sao bạn muốn thay đổi nghề nghiệp? Vì buồn chán, vì nghề đang làm không phù hợp khả năng, chưa bao giờ yêu thích công việc ấy, lương/vị trí quá thấp so với năng lực, không có triển vọng thăng tiến, vì thấy ngành nghề khác hấp dẫn hơn… Bạn cũng cần suy xét kỹ, liệu mong muốn thay đổi nghề của bạn chỉ là nhất thời trong một phút giây bồng bột, hoặc bị stress do áp lực công việc…, hay bạn đã ấp ủ mong muốn thay đổi từ lâu.
2. Xác định rõ ngành nghề phù hợp với mình
Bạn muốn thay đổi hẳn công việc này để chuyển sang một nghề mới, hay muốn tự lập công ty riêng? Bạn thuộc kiểu người nào, nghệ sỹ hay thực tiễn, nghiên cứu…? Bởi ứng với mỗi kiểu người là một nghề nghiệp phù hợp. Sau khi xác định rõ những điều trên, bạn sẽ biết mình cần chọn công việc gì. Hẳn nhiên chọn việc theo đam mê luôn là gợi ý đầu tiên, nhưng đam mê phải gắn liền với năng lực. Bạn không thể đòi theo nghề báo chỉ vì thấy nghề này thú vị, được đi nhiều, tiếp xúc nhiều… trong khi bạn không có khả năng viết tốt; bạn cũng không thể muốn lập công ty riêng chỉ để bằng bạn bè khi điều kiện về vốn hoặc năng lực lãnh đạo của bạn không thể đáp ứng.
Việc xác định rõ công việc phù hợp rất quan trọng với bạn, bởi đây là mấu chốt để bạn có thể thành công khi bạn không còn trẻ và chuẩn bị bắt đầu lại từ đầu. Để việc xác định được chi tiết và khoa học, bạn có thể lập ra một danh sách các ngành nghề phù hợp với khả năng và ước muốn của bạn. Thường thì bạn nên tham khảo ý kiến của gia đình và bạn bè, tuy nhiên không phải khi nào họ cũng đúng, bởi họ sẽ tư duy theo logic thông thường, trong khi một “kẻ nổi loạn” muốn thay đổi sự nghiệp đã ổn định như bạn sẽ thiên về hướng đột phá. Quyết định cuối cùng vẫn thuộc về bạn!
3. Bổ sung kỹ năng phù hợp cho công việc mới
Việc trau dồi kỹ năng cho công việc mới cần được bắt đầu từ trước khi bạn thay đổi nghề nghiệp. Nếu bạn chọn một nghề hoàn toàn mới, bạn sẽ phải học và học rất nhiều để có được kỹ năng chuyên môn đáp ứng đủ cho công việc. Những khóa học bồi dưỡng kỹ năng thường không chiếm nhiều thời gian và chi phí, nhưng chúng sẽ giúp ích cho bạn rất nhiều, như cập nhật lượng kiến thức chuyên môn về công việc, tích lũy được kinh nghiệm trong nghề của những người đi trước, gia nhập mạng lưới nghề nghiệp từ lớp học… Dù từng là siêu sao thể thao, Eric Cantona đã phải tham gia nhiều khóa đào tạo diễn xuất và đạo diễn mới có được thành công bước đầu trong nghệ thuật thứ 7 sau nhiều lời chê bai. Không chỉ có đam mê, J. K. Rowling vốn rất giỏi văn học, tiếng La tinh, tiếng Hy Lạp và tiếng Pháp, đã tham khảo nhiều tư liệu cổ để có thể viết nên Harry Potter đầy hấp dẫn.
4. Tạo bước đệm trước khi chính thức “làm lại từ đầu”
Bạn có thể vừa học vừa làm như một “thợ tập sự” trước khi chính thức tham gia công việc mới. Hãy tìm hiểu kỹ lưỡng lĩnh vực bạn quan tâm từ các nguồn như Internet, bạn bè người quen, học hỏi từ những người đã hoạt động lâu năm trong lĩnh vực đó để tham khảo kinh nghiệm của họ. Bạn cũng có thể tìm một công việc bán thời gian, hoặc tham gia tự nguyện những dự án có liên quan để có thêm kinh nghiệm cho công việc mới. Một khi bạn thấy tự tin với những gì mình đã nắm bắt và chuẩn bị, ấy là lúc bạn có thể tiến hành công việc mới mà bạn mong chờ.
Mọi thử thách đều có cái giá của nó, nếu chọn cách sống bình lặng, sẽ chẳng ai chê trách bạn, còn nếu đủ đam mê, tự tin và kiên nhẫn, bạn hãy chọn cách thay đổi để vươn lên. Con cá nếu chỉ tung tăng trong một cái ao nhỏ thì dù cố hết sức cũng chỉ được vẫy vùng trong chiếc ao nhỏ mà thôi, nhưng nếu nó được thả vào dòng sông thì một ngày nào đó, nó có thể bơi ra biển lớn.

Thứ Hai, 2 tháng 4, 2012

Ly hôn có được chia nhà, đất?


Trước khi kết hôn, chồng tôi được bố mẹ cho thửa đất để xây nhà. Sau kết hôn, vợ chồng tôi đã xây dựng căn nhà 03 tầng trên mảnh đất này (bằng tiền do bố mẹ chồng cho). Sau đó, chúng tôi nộp hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà ở mang tên hai người. Nay chúng tôi ly hôn, tôi có quyền yêu cầu chia tài sản này không?  (Nguyễn Bích Hạnh, Cầu Giấy, Hà Nội)

Trả lời:
Theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, thì: Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận.
Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.
Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng.
Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung.
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 cũng quy định cụ thể về tài sản riêng của vợ chồng (tại khoản 1 Điều 29, Điều 30, Điều 32): Tài sản riêng của vợ, chồng gồm: Tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; Tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; Tài sản được chia riêng trong trường hợp vợ, chồng thoả thuận (bằng văn bản) chia từ khối tài sản chung khi hôn nhân đang tồn tại để đầu tư kinh doanh riêng và hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản có được trong trường hợp này.
Như vậy, quyền sử dụng thửa đất và căn nhà trên đất có nguồn gốc là tài sản riêng của chồng chị. Tuy nhiên, sau đó vợ, chồng chị làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và trên Giấy chứng nhận này ghi tên của cả hai vợ chồng, có nghĩa là hai người đã thỏa thuận gộp khối tài sản riêng thành tài sản chung. Vợ, chồng chị có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản chung. Trường hợp vợ, chồng chị có đơn yêu cầu tòa án giải quyết việc ly hôn, chị có quyền yêu cầu được chia khối tài sản trên.
Luật sư Phạm Ngọc Minh
(Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội, E-mail: info@youmevietnam.com)

Phạm tội trong tình trạng say rượu có được miễn trách nhiệm?


Hỏi: Người phạm tội trong tình trạng không thể nhận thức việc làm của mình như trường hợp bị say rượu hoặc say do dùng chất kích thích mạnh khác có thể được miễn hoặc giảm trách nhiệm không, rất mong được sự giải đáp của Chuyên mục. (Lê Tuấn Anh, Đông Anh, Hà Nội)

Trả lời:
Trong tình trạng say do rượu hoặc say do dùng chất kích thích mạnh khác, người say có thể bị giảm sút hoặc mất hoàn toàn năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi trong một khoảng thời gian nhất định. Tuy nhiên, pháp luật hình sự vẫn quy định: thực hiện tội phạm trong tình trạng say phải chịu trách nhiệm hình sự. Bởi, khi đặt mình vào tình trạng say, tức là người này đã tự đặt mình vào tình trạng năng lực trách nhiệm hình sự hạn chế hoặc loại trừ. Họ đã tự tước bỏ năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi của mình, do đó họ có lỗi với tình trạng say của mình, đồng thời cũng có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm. Tại Điều 14 Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (BLHS) quy định: “Người phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự”.
Khi uống rượu hoặc sử dụng chất kích thích mạnh khác, người ta có thể lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình, tức là trong tình trạng đó không tồn tại điều kiện chủ quan thực tế để có lỗi. Song xuất phát từ việc cho rằng, tình trạng không nhận thức và điều khiển hành vi ở người say chỉ là tạm thời, không phải là kết quả do những nguyên nhân ổn định, tiềm tàng từ chính bên trong chủ thể đưa lại như năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi tự nó sẽ được khôi phục vì trước đó họ là người bình thường. Do đó, buộc một người phải chịu trách nhiệm hình sự về việc thực hiện tội phạm trong tình trạng say rượu hay say do dùng chất kích thích mạnh khác là sự quy kết tội phạm khách quan, hợp pháp và còn có ý nghĩa tác động giáo dục mạnh mẽ không chỉ đối với người đó, mà còn đối với người khác: không được quá lạm dụng rượu hoặc chất kích thích để dẫn đến thực hiện tội phạm.
BLHS không coi việc say do sử dụng rượu, bia quá nồng độ quy định hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác là tình tiết để giảm nhẹ hoặc miễn trách nhiệm hình sự. Thậm chí đối với một số tội phạm, BLHS còn coi  đây là các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (ví dụ: Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ  (Điều 202), Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường sắt (Điều 208); Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thuỷ  (Điều 212)...).
Luật gia Trần Thị Lan
(Công ty Luật TNHH YouMe, Website: www.youmevietnam.com)

Về trợ cấp thôi việc khi chấm dứt Hợp đồng lao động

Hỏi: Một số lao động tại công ty tôi làm việc theo chế độ hợp đồng lao động (HĐLĐ) xác định thời hạn 12 tháng xin thôi việc. Họ đã bàn giao công việc, tài sản cho công ty trước khi nghỉ, cũng như tuân thủ quy định về thời hạn báo trước 30 ngày. Tuy nhiên, công ty thông báo, sẽ không trợ cấp cho những lao động tự xin nghỉ, trong khi những người thôi việc trước đó vẫn được hưởng trợ cấp ½ tháng lương và phụ cấp. Đề nghị Quý Báo tư vấn, việc áp dụng chế độ không đồng đều đối với người lao động như vậy có vi phạm luật lao động không? (Khánh Ly, Email: khanhly_106@yahoo.com)
Trả lời:
Khoản 1 Điều 37 Bộ luật lao động (BLLĐ) đã được sửa đổi, bổ sung năm 2002, quy định người lao động làm việc theo chế độ HĐLĐ xác định thời hạn từ 12 tháng trở lên có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ trước thời hạn khi thuộc các trường hợp: a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm các điều kiện làm việc đã thoả thuận trong hợp đồng; b) Không được trả công đầy đủ hoặc trả công không đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng; c) Bị ngược đãi; bị cưỡng bức lao động; d) Bản thân hoặc gia đình thật sự có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng; d) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở các cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước; e) Người lao động nữ có thai phải nghỉ việc theo chỉ định của thầy thuốc; g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 03 tháng liền đối với người làm việc theo HĐLĐ xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.
BLLĐ có quy định về trợ cấp thôi việc khi chấm dứt HĐLĐ quy định tại Điều 42; Nghị định số 44/2003/NĐ-CP (ngày 09/05/2003, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về HĐLĐ), có hướng dẫn chi tiết vấn đề này tại Điều 14, theo đó:
Người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cứ mỗi năm làm việc là nửa tháng lương, cộng với phụ cấp lương (nếu có) đối với người lao động đã làm việc từ đủ 12 tháng trở lên quy định tại khoản 1 Điều 42 của BLLĐ trong các trường hợp chấm dứt HĐLĐ quy định tại Điều 36 của BLLĐ; Điều 37, các điểm a, c, d và điểm đ khoản 1 Điều 38, khoản 1 Điều 41, điểm c khoản 1 Điều 85 của BLLĐ đã sửa đổi, bổ sung
Trường hợp chấm dứt HĐLĐ quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 85 và nghỉ hưởng chế độ hưu trí hàng tháng quy định tại Điều 145 của BLLĐ đã sửa đổi, bổ sung người lao động không được trợ cấp thôi việc.
Trường hợp người lao động chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật quy định tại khoản 2 Điều 41 của BLLĐ đã sửa đổi, bổ sung là chấm dứt không đúng lý do quy định tại khoản 1 hoặc không báo trước quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 37 của BLLĐ đã sửa đổi, bổ sung thì không được trợ cấp thôi việc.
Khoản 6 Điều 139 Luật BHXH năm 2006 quy định: Thời gian người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Luật BHXH không được tính để hưởng trợ cấp mất việc làm hoặc trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật về lao động, pháp luật về cán bộ, công chức.
Do đó, để được hưởng chế độ trợ cấp thôi việc, ngoài việc báo trước cho người sử dụng lao động biết trước 30 ngày, người lao động phải đáp ứng điều kiện đã làm việc tại doanh nghiệp “từ đủ 12 tháng trở lên” và thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 37 BLLĐ đã sửa đổi, bổ sung năm 2002. Thời gian người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp không được coi là thời gian tính trợ cấp thôi việc.
Anh (chị) cần lưu ý, giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc cho người lao động còn căn cứ vào thoả thuận giữa các bên tại HĐLĐ, thoả ước lao động tập thể, quy chế riêng của doanh nghiệp và theo nguyên tắc quyền lợi của người lao động được hưởng không thấp hơn mức do pháp luật quy định.
LS Phạm Ngọc Minh 
(Đoàn Luật sư TP. Hà Nội, E-mail: youmevietnam.com)

phạm tội cưỡng dâm?


Hỏi: Thế nào được coi là phạm tội cưỡng dâm. Hình phạt đối với tội phạm này như thế nào? Rất mong sự giải đáp của Chuyên mục. (Bích Ngọc, Sài Đồng, Hà Nội)

Trả lời:
Cưỡng dâm là hành vi “dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu” (khoản 1 Điều 113 Bộ luật Hình sự).
Người bị hại của tội phạm này là người (thông thường là  phụ nữ) có quan hệ lệ thuộc với người phạm tội, hoặc là đang ở trong tình trạng quẫn bách.
Quan hệ lệ thuộc ở đây có thể là lệ thuộc về mặt công tác, như: giữa thủ trưởng với nhân viên, về mặt kinh tế như giữa người nuôi dưỡng và người được nuôi dưỡng, về mặt tín ngưỡng hay gia đình…
Đang ở trong tình trạng quẫn bách là trường hợp người (phụ nữ) đang ở trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, tự mình không thể (hoặc khó có thể) khắc phục được, mà đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của người khác, như: trường hợp người thân trong gia đình bị mắc bệnh hiểm nghèo khi hoàn cảnh lại đang túng thiếu nghiêm trọng.
Người phạm tội đã lợi dụng quan hệ lệ thuộc hoặc hoàn cảnh có khó khăn đặc biệt nói trên của nạn nhân để khống chế tư tưởng họ, buộc họ phải miễn cưỡng giao cấu. Thủ đoạn mà người phạm tội sử dụng để khống chế có thể là đe dọa, hoặc hứa hẹn.
Người phạm tội có thể lợi dụng quan hệ lệ thuộc, lợi dụng uy thế của mình dọa sẽ gây thiệt hại cho người bị lệ thuôc nếu như không chịu giao cấu, như dọa chuyển công tác, dọa không nuôi dưỡng, dọa hủy hợp đồng lao động… Hành vi đe dọa của tội cưỡng dâm chưa tới mức làm người bị đe dọa tê liệt ý chí, không dám kháng cự. Người bị đe dọa chỉ bị khống chế tư tưởng, họ vẫn có khả năng phản kháng nhưng đã miễn cưỡng chịu giao cấu.
Người phạm tội cưỡng dâm cũng có thể lợi dụng quan hệ lệ thuộc, lợi dụng uy thế của mình, hoặc lợi dụng người đang trong tình trạng quẫn bách, hứa hẹn mang lại quyền lợi nào đó cho người (phụ nữ) nếu như họ chịu giao cấu, như hứa cho chuyển công tác, tăng chức. Tuy  nhiên, sự hứa hẹn ở đây phải có tính chất là sự khống chế về tư tưởng người bị hại, buộc họ phải miễn cưỡng chấp nhận sự giao cấu. Những trường hợp hứa hẹn khác không thuộc phạm vi của tội này.
Người phạm tội hiếp dâm với lỗi cố ý, nghĩa là người phạm tội biết nạn nhân là người lệ thuộc mình, hoặc biết họ đang trong tình trạng quẫn bách. Người phạm tội cũng biết hành vi đe dọa hay hứa hẹn của mình là hành vi lợi dụng quan hệ lệ thuộc hoặc lợi dụng tình trạng quẫn bách của người phụ nữ để buộc họ miễn cưỡng giao cấu.
Người phạm tội cưỡng dâm có thể phải chịu hình phạt tù từ 06 tháng đến 18 năm, tùy từng mức độ vi phạm, ngoài ra còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành  nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Luật gia Trần Thị Lan
(Công ty Luật TNHH YouMe, Website: www.youmevietnam.com)